Print this page

Bản Tin Chuyên Đề Dự Báo Nguy Cơ Hạ Thấp Mực Nước Dưới Đất Và Xâm Nhập Mặn Đồng Bằng Lưu Vực Sông Hồng – Thái Bình Giai Đoạn 2025 – 2030.

Lưu vực Sông Hồng - Thái Bình là nơi có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đa dạng, bao gồm 15 tỉnh, thành phố với tổng diện tích là 88.860 km2. Đối với tài nguyên nước dưới đất khu vực nghiên cứu thuộc đồng bằng lưu vực Sông Hồng - Thái Bình có các tầng chứa nước phân bố ở 7 tỉnh thành. Trong đồng bằng lưu vực sông Hồng - Thái Bình hiện này có 89 điểm quan trắc, 156 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất được Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia xây dựng và đưa vào vận hành. Cùng với sự gia tăng dân số và sự phát triển của xã hội, nhu cầu về nước ngày càng gia tăng, đặc biệt tại các thành phố lớn và các vùng kinh tế trọng điểm. Nhu cầu nước tăng cao làm gia tăng khai thác nước dưới đất, gây hạ thấp mực nước kéo theo các nguy cơ về suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước.

1.Kết quả dự báo tốc độ hạ thấp mực nước dưới đất

1.1. Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen (qh)

 Đây là tầng chứa nước nằm phía trên tầng chứa nước khai thác chính (qp) của đồng bằng lưu vực sông Hồng - Thái Bình. Tầng chứa nước này là một trong những nguồn bổ cập cho tầng chứa nước khai thác chính. Giai đoạn 5 năm 2020-2025, mực nước trung bình có xu thế dâng với tốc độ dâng là 0,05m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,29m/năm tại công trình Q.33 (xã Đông Anh, thành phố Hà Nội ). Giai đoạn 10 năm (2015-2025) và giai đoạn 15 năm (2010-2025) mực nước trung bình đều có xu thế hạ với tốc độ hạ là 0,01m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất tại công trình Q.89 (phường Duy Tiên, tỉnh Ninh Bình) giai đoạn 10 năm là 0,30m/năm, giai đoạn 15 năm là 0,26m/năm.

Kết quả dự báo tốc độ hạ thấp giai đoạn 2025 đến 2030 (hình 1) cho thấy như sau: - Vùng có tốc độ hạ thấp mực nước 0,1÷0,2m/năm với diện tích là 204km2 chiếm 1,79% diện tích TCN, phân bố trên diện nhỏ ở thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng và tỉnh Phú Thọ.

10 1 26 1

Sơ đồ dự báo tốc độ hạ thấp mực nước TCN qh giai đoạn 2025 - 2030

- Vùng có mực nước có xu hướng ít thay đổi với diện tích là 11.182km2 chiếm hơn 98,21% diện tích TCN phân bố phần lớn ở các tỉnh lưu vực sông Hồng - Thái Bình.

1.2. Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen (qp)

Đây là tầng chứa nước khai thác chính của đồng bằng lưu vực sông Hồng - Thái Bình. Giai đoạn 5 năm 2019-2024, mực nước trung bình có xu thế hạ với tốc độ hạ là 0,02m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,56m/năm tại công trình Q.109a (xã Ninh Cường, tỉnh Ninh Bình). Giai đoạn 10 năm 2014-2024, mực 8 nước trung bình có xu thế hạ với tốc độ hạ là 0,06m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,62m/năm tại công trình Q.109a (xã Ninh Cường, tỉnh Ninh Bình). Giai đoạn 15 năm 2009-2024, mực nước trung bình có xu thế hạ với tốc độ hạ là 0,09m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,62m/năm tại công trình Q.109a (xã Ninh Cường, tỉnh Ninh Bình).

Kết quả dự báo tốc độ hạ thấp giai đoạn 2025 đến 2030 cho thấy như sau:

 - Vùng có tốc độ hạ thấp mực nước lớn hơn 0,5m/năm: chủ yếu tập trung ở Ninh Bình với diện tích là 481km2 chiếm 3,83% diện tích TCN.

 - Vùng có tốc độ hạ thấp mực nước từ 0,3 - 0,5m/năm: chủ yếu tập trung ở Ninh Bình và Hưng Yên với diện tích là 718 km2 chiếm 5,72% diện tích TCN.

 - Vùng có tốc độ hạ thấp mực nước từ 0,2 - 0,3m/năm: chủ yếu tập trung Phú Thọ, Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên và Ninh Bình với diện tích là 1.744 km2 chiếm 13,88% diện tích TCN.

- Vùng có tốc độ hạ thấp mực nước từ 0,1 - 0,2m/năm: phân bố khá rộng gồm các tỉnh thành như Phú Thọ, Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên và Ninh Bình với diện tích là 2.859km2 chiếm 22,76% diện tích TCN.

- Vùng dâng và ít thay đổi (<0.1/năm): phân bố hầu hết các tỉnh lưu vực sông Hồng – Thái Bình với diện tích là 6763 km2 chiếm 53.82% diện tích TCN.

2. Kết quả dự báo nguy cơ xâm nhập mặn

2.1. Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen (qh)

Kết quả dự báo nguy cơ xâm nhập mặn tới năm 2030 cho thấy chỉ có một diện tích nhỏ vùng nước nhạt có nguy cơ bị nhiễm mặn chiếm 1,82% diện tích vùng phân bố nước nhạt, tập trung ở các xã Thanh Miện, thành phố Hải Phòng; xã Phú Xuyên, TP. Hà Nội; xã Thái Thụy, tỉnh Hưng Yên.

2.2. Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen (qp)

Kết quả dự báo nguy cơ xâm nhập mặn tới năm 2030 cho thấy chỉ có một diện tích nhỏ vùng nước nhạt có nguy cơ bị nhiễm mặn chiếm 1,41% diện tích vùng phân bố nước nhạt, tập trung ở các tỉnh thành Ninh Bình, Hưng Yên, hải Phòng, Quảng Ninh

3. Đề xuất, kiến nghị

Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân có khai thác sử dụng nguồn nước dưới đất tiếp tục theo dõi và có các biện pháp, kế hoạch khai thác phù hợp đối với các khu vực có độ sâu mực nước vượt ngưỡng cho phép đặc biệt là tại các khu vực phường Cầu Giấy - TP Hà Nội; xã Ninh Cường, tỉnh Ninh Bình và các khu vực có nguy cơ nhiễm mặn tập trung chủ yếu ở một số xã thuộc các tỉnh thành Ninh Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên.

Read 4 times
Rate this item
(0 votes)