Lưu vực sông Đồng Nai là vùng chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và xâm nhập mặn, đây đồng thời cũng là vùng kinh tế trọng điểm đóng vai trò quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội chung ở Việt Nam, là nơi có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên rất thuận lợi, đa dạng, dân cư đông đúc.
Cùng với sự gia tăng dân số và sự phát triển của xã hội, nhu cầu về nước ngày càng gia tăng, đặc biệt tại các thành phố lớn và các vùng kinh tế trọng điểm. Nhu cầu nước tăng cao làm gia tăng khai thác nước dưới đất, gây hạ thấp mực nước kéo theo các nguy cơ về suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước.
Với tiêu chí “Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước”, Chính phủ nước ta luôn nỗ lực tăng cường và kiện toàn, thể chế, chính sách trong lĩnh vực tài nguyên nước, quản lý, bảo vệ hiệu quả tài nguyên nước nhằm góp phần vào tiến trình phát triển bền vững của đất nước cũng như khu vực.
Để tăng cường công tác thông báo cảnh báo dự báo tài nguyên nước dưới đất phục vụ quản lý hiệu quả và bền vững tài nguyên nước, từ năm 2017, Trung tâm Cảnh báo và Dự báo tài nguyên nước bắt đầu thực hiện biên soạn Bản tin chuyên đề dự báo hạ thấp mực nước giai đoạn 5 năm và đánh giá nguy cơ xâm nhập mặn tài nguyên nước dưới đất. Trên cơ sở các tài liệu quan trắc mực nước và chất lượng nước dưới đất từ năm 1990 đến tháng 10 năm 2025, Trung tâm thực hiện biên soạn “Bản tin chuyên đề dự báo nguy cơ hạ thấp mực nước dưới đất và xâm nhập mặn lưu vực sông Đồng Nai giai đoạn 2025-2030”.
1.Kết quả dự báo tốc độ hạ thấp mực nước dưới đất
1.1. Tầng chứa nước Pleistocene trên (qp3)
Tầng chứa nước Pleistocene trên là tầng chứa nước khá ổn định trong vùng, mực nước ít biến đổi. Mực nước trung bình giai đoạn 5 năm gần nhất 2020-2025, giai đoạn 10 năm gần nhất 2015-2025 và giai đoạn 15 năm gần nhất 2009-2025 đều có xu thế ít biến đổi, không có công trình hạ thấp mực nước. Kết quả dự báo tốc độ hạ thấp giai đoạn 2025 đến 2030 cho thấy như sau:
- Vùng có tốc độ hạ thấp mực nước (0,1÷0,2m/năm) chiếm diện tích là 131,7km2 chiếm 1,80% diện tích TCN tập trung ở tỉnh Tây Ninh.
- Vùng dâng và vùng có tốc độ hạ thấp mực nước ít thay đổi.

Sơ đồ dự báo tốc độ suy giảm mực nước TCN qp3 giai đoạn 2025 - 2030
1.2 Tầng chứa nước Pleistocene giữa trên (qp2-3)
Tầng chứa nước Pleistocene giữa trên là một trong những tầng chứa nước khai thác chính của vùng lưu vực sông Đồng Nai. Mực nước trung bình giai đoạn 5 năm gần nhất 2020-2025 có xu thế ít biến đổi, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,201 m/năm, tại công trình xã Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Mực nước trung bình giai đoạn 10 năm gần nhất 2015-2025 có xu thế ít biến đổi, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,229 m/năm, tại công trình xã Tân Trụ, tỉnh Tây Ninh. Mực nước trung bình giai đoạn 15 năm gần nhất 2010-2025 có xu thế ít biến đổi, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,347 m/năm, tại công trình xã Tân Trụ, tỉnh Tây Ninh.
Kết quả dự báo tốc độ hạ thấp giai đoạn 2025 đến 2030 cho thấy như sau:
- Vùng có tốc độ hạ thấp mực nước (0,1 – 0,2 m/năm): phân bố tập trung ở Tây Ninh với diện tích là 457km2 chiếm 3,9% diện tích TCN.
- Vùng có tốc độ hạ thấp mực nước ít thay đổi.
1.3. Tầng chứa nước Pleistocene dưới (qp1)
Tầng chứa nước Pleistocene dưới là tầng chứa nước khai thác chính của vùng. Mực nước trung bình giai đoạn 5 năm gần nhất 2020-2025 có xu thế ít biến đổi, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,261 m/năm, tại công trình xã Vĩnh Hưng, tỉnh Tây Ninh. Mực nước trung bình giai đoạn 10 năm gần nhất 2015-2025 có xu thế hạ, tốc độ hạ thấp trung bình là 0,054 m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,287 m/năm, tại công trình xã Tân Trụ, tỉnh Tây Ninh. Mực nước trung bình giai đoạn 15 năm gần nhất 2010-2025 có xu thế hạ, tốc độ hạ thấp trung bình là 0,129 m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,307 m/năm, tại công trình xã Vĩnh Hưng, tỉnh Tây Ninh.
Kết quả dự báo tốc độ hạ thấp giai đoạn 2025 đến 2030 cho thấy như sau: - Vùng có tốc độ hạ thấp mực nước (0,2 – 0,3 m/năm): phân bố ở TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Tây Ninh với diện tích là 52 km2 chiếm 0,4% diện tích TCN. 10 11
- Vùng có tốc độ hạ thấp mực nước (0,1 – 0,2 m/năm): Phân bố khá rộng ở TP. Hồ Chí Minh, Tây Ninh với diện tích là 513km2 chiếm 4,2% diện tích TCN.
- Vùng có tốc độ hạ thấp mực nước ít thay đổi (<0.1m/năm): phân bố ở các tỉnh Tây Ninh, TP. Hồ Chí Minh chiếm diện tích là 11732 km2 chiếm 95.4% diện tích TCN.
1.4. Tầng chứa nước Pliocene giữa (n22)
Tầng chứa nước Pliocene giữa là một trong những tầng chứa nước khai thác chính của lưu vực sông Đồng Nai. Mực nước trung bình giai đoạn 5 năm gần nhất 2020-2025 có xu thế ít biến đổi, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,37 m/năm, tại công trình xã Thạnh Hóa, tỉnh Tây Ninh. Mực nước trung bình giai đoạn 10 năm gần nhất 2015-2025 có xu thế ít biến đổi, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,563 12 m/năm, tại công trình xã Thạnh Hóa, tỉnh Tây Ninh.
Mực nước trung bình giai đoạn 15 năm gần nhất 2010-2025 có xu thế hạ, tốc độ hạ thấp trung bình là 0,039 m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,697 m/năm, tại công trình xã Thạnh Hóa, tỉnh Tây Ninh.
Kết quả dự báo tốc độ hạ thấp giai đoạn 2025 đến 2030 cho thấy như sau:
- Vùng có tốc độ hạ thấp mực nước (0,2 – 0,3 m/năm): phân bố ở tỉnh Tây Ninh với diện tích là 27 km2 chiếm 0,2% diện tích TCN.
- Vùng có tốc độ hạ thấp mực nước (0,1 – 0,2 m/năm): phân bố tập trung ở tỉnh Tây Ninh với diện tích là 244km2 chiếm 1,8% diện tích TCN. - Vùng có tốc độ hạ thấp mực nước ít thay đổi (<0.1m/năm): phân bố tại các TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và một phần tỉnh Tây Ninh với diện tích 13592.5km2 chiếm 98% diện tích TCN.
1.5. Tầng chứa nước Pliocene dưới (n21)
Tầng chứa nước Pliocene dưới là một trong những tầng chứa nước khai thác chính của lưu vực sông Đồng Nai. Mực nước trung bình giai đoạn 5 năm gần nhất 2020-2025 có xu thế ít biến đổi, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,374 m/năm, tại công trình xã Vĩnh Hưng, tỉnh Tây Ninh. Mực nước trung bình giai đoạn 10 năm gần nhất 2015-2025 có xu thế hạ, tốc độ hạ thấp trung bình là 0,153 m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,609 m/năm, tại công trình xã Thạnh Hóa, tỉnh Tây Ninh. Mực nước trung bình giai đoạn 15 năm gần nhất 2010-2025 có xu thế hạ, tốc độ hạ thấp trung bình là 0,299 m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,781 m/năm, tại công trình xã Thạnh Hóa, tỉnh Tây Ninh.
Kết quả dự báo tốc độ hạ thấp giai đoạn 2025 đến 2030 cho thấy như sau:
- Vùng có tốc độ hạ thấp mực nước rất mạnh (> 0,5 m/năm): chủ yếu tập trung ở tỉnh Tây Ninh với diện tích là 1113,6km2 chiếm 13,2% diện tích TCN.
- Vùng có tốc độ hạ thấp mực nước mạnh (0,3 – 0,5 m/năm): chủ yếu tập trung ở tỉnh Tây Ninh với diện tích là 1246km2 chiếm 14,8 diện tích TCN.
- Vùng có tốc độ hạ thấp mực nước vừa (0,2 – 0,3 m/năm): chủ yếu tập trung ở các tỉnh Tây Ninh với diện tích là 1348,2km2 chiếm 16% diện tích TCN.
- Vùng có tốc độ hạ thấp mực nước yếu (0,1 – 0,2 m/năm): phân bố chủ yếu tại tỉnh Tây Ninh với diện tích là 2372km2 chiếm 28% diện tích TCN.
- Vùng có tốc độ hạ thấp mực nước ít thay đổi (<0.1m/năm): phân bố ở tỉnh Tây Ninh và dài nhỏ hẹp khu vực TP. Hồ Chí Minh với diện tích là 2359 km2 chiếm 28% diện tích TCN.
1.6. Tầng chứa nước Pliocene trên (n13)
Tầng chứa nước Pliocene trên là một trong những tầng chứa nước khai thác chính của vùng Lưu vực sông Đồng Nai. Mực nước trung bình giai đoạn 5 năm gần nhất 2020-2025 có xu thế ít biến đổi, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,44 m/năm, tại công trình xã Vĩnh Hưng, tỉnh Tây Ninh. Mực nước trung bình giai đoạn 10 năm gần nhất 2015-2025 có xu thế hạ, tốc độ hạ thấp trung bình là 0,04 m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,4 m/năm, tại công trình xã Vĩnh Hưng, tỉnh Tây Ninh. Mực nước trung bình giai đoạn 15 năm gần nhất 2010-2025 có xu thế hạ, tốc độ hạ thấp trung bình là 0,21 m/năm, tốc độ hạ thấp lớn nhất là 0,54 m/năm, tại công trình xã Nhựt Tảo, tỉnh Tây Ninh.
2. Kết quả dự báo nguy cơ xâm nhập mặn
2.1. Tầng chứa nước Pleistocene trên (qp3)
Kết quả dự báo bằng mô hình dịch chuyển vật chất tới năm 2030 cho thấy vùng nước nhạt có nguy cơ bị nhiễm mặn chiếm 1,46 (66km2) diện tích vùng phân bố nước nhạt hiện tại (4498km2), tập trung chủ yếu ở xã Ninh Điền, tỉnh Tây Ninh, phường Trung Mỹ Tây, TP.Hồ Chí Minh.
2.2. Tầng chứa nước Pleistocene giữa trên (qp2-3)
Kết quả dự báo bằng mô hình dịch chuyển vật chất tới năm 2030 cho thấy vùng nước nhạt có nguy cơ bị nhiễm mặn chiếm 0,83% (62 km2) diện tích vùng phân bố nước nhạt hiện tại (7461 km2), tập trung chủ yếu ở phường Đông Hưng Thuận, Phường Thới Hòa, TP. Hồ Chí Minh, xã Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
2.3. Tầng chứa nước Pleistocene dưới (qp1)
Kết quả dự báo bằng mô hình dịch chuyển vật chất tới năm 2030 cho thấy vùng nước nhạt có nguy cơ bị nhiễm mặn chiếm 3,52 % (312 km2) diện tích vùng phân bố nước nhạt hiện tại (8861 km2), tập trung chủ yếu ở các Phường Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, xã Bình Mỹ, TP. Hồ Chí Minh, xã Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
2.4. Tầng chứa nước Pliocene giữa (n22)
Kết quả dự báo bằng mô hình tới năm 2030 cho thấy diện tích vùng nước nhạt có nguy cơ bị nhiễm mặn chiếm 0,66% (81km2) diện tích vùng phân bố nước nhạt (12114km2) tập trung chủ yếu ở các xã Nhựt Tảo, xã Thủ Thừa, tỉnh Tây Ninh, phường Thới Hòa, phường Trung Mỹ Tây, TP. Hồ Chí Minh.
2.5. Tầng chứa nước Pliocene dưới (n21)
Kết quả dự báo bằng mô hình tới năm 2030 cho thấy chỉ có một diện tích rất nhỏ vùng nước nhạt có nguy cơ bị nhiễm mặn chiếm 1,59% (188km2) diện tích vùng phân bố nước nhạt (7412 km2) tập trung ở các xã Ninh Điền, tỉnh Tây Ninh, xã Đông Thành, tỉnh Tây Ninh, xã Nhuận Đức, TP.Hồ Chí Minh.
2.6. Tầng chứa nước Pliocene trên (n13)
Kết quả dự báo bằng mô hình tới năm 2030 cho thấy chỉ có một diện tích rất nhỏ vùng nước nhạt có nguy cơ bị nhiễm mặn chiếm 1,61% (85 km2) diện tích vùng phân bố nước nhạt (5256 km2) tập trung ở các phường Trảng Bàng, xã Đông Thành tỉnh Tây Ninh.
3. Đề xuất, kiến nghị
Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân có khai thác sử dụng nguồn nước dưới đất tiếp tục theo dõi và có các biện pháp, kế hoạch khai thác phù hợp đối với các khu vực có độ sâu mực nước vượt quá giới hạn cho phép đặc biệt là tại các khu vực Phường Đông Gia Nghĩa, tỉnh Lâm Đồng; Phường Nam Gia Nghĩa, tỉnh Lâm Đồng; xã Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai; Phường 2 Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; xã Đinh Văn Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng và các khu vực có nguy cơ nhiễm mặn tập trung chủ yếu ở một số xã thuộc tỉnh thành Tây Ninh.